Với những người đã dùng Windows 10 một thời gian rất dài và sau khi đã có những trải nghiệm bước đầu khi "lên đời" Windows 11, nhiều ý kiến đồng tình rằng có lẽ vẫn nên gắn bó với Windows 10. Vậy đâu là lý do? 1. Khả năng tương thích của Windows 10 được đánh giá cao hơn Windows 11 Tác giả SPY x FAMILY cảm thấy "không gắn bó" với các nhân vật của mình khiến fan thất vọng. KTHN Tháng Năm 13, 2022. Bởi trước đó anh ấy đã không cố gắng khắc họa hay tạo ra các nhân vật có ngoại hình hấp dẫn về mặt hình ảnh trong các tác phẩm của mình cho 4 lời khuyên để vượt qua tình cảm gắn bó của vợ chồng. Bây giờ bạn đã biết tình cảm gắn bó là gì, điều quan trọng là bạn cố gắng vượt qua nó để sống trọn vẹn và hạnh phúc. Rất thường xuyên, trong một cuộc chia tay đôi, sẽ tốn rất nhiều chi phí để phá Video Gắn bó là gì. Saul McLeod [1] | Pei Guangming Bản dịch . Đã đăng trong Dạy học Số 7, tháng 1 năm 2019 . Bạn đang xem: Gắn bó là gì Theo định nghĩa của ainsworth (1979) [2] và Bowby (1969) [3], sự gắn bó là một mối quan hệ tình cảm sâu sắc và lâu dài, kết nối người này với người khác xuyên thời gian và không gian. Hãy dồn hết mọi cố gắng vào các quyền lợi Nước Trời trong khi bạn cứ gắn bó với hiệp hội quốc tế các anh em Nhân-chứng Giê-hô-va và hoàn tất thánh chức tín đồ đấng Christ. (Philippians 2:12-16) Concentrate on Kingdom interests as you remain united with the international brotherhood of Jehovah's Witnesses and fulfill the Christian ministry. jw2019 Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd. Dicionário inFormal O dicionário onde o português é definido por você! Dicionário inFormal possui definições de gírias e palavras de baixo-calão. Seu conteúdo não é adequado para todas as audiências. Trem bão ou Coisa boa - Significados, Definições, Sinônimos, Antônimos, Relacionadas, Exemplos, Rimas, Flexões I. Giới thiệu về học thuyết gắn bó Học thuyết gắn bó xuất phát từ John Bowlby1982, ông là người quan tâm đến mặt tập tính học trên hành vi con người. Bowlby cho rằng khi được đặt trong môi trường không có sự giúp đỡ, trẻ nhũ nhi có khả năng đáp ứng cao để duy trì sự tiếp xúc gần gũi với người chăm sóc đầu đời, bằng cách gắn bó với người chăm sóc, trẻ nhỏ đảm bảo được an toàn, thức ăn và cuối cùng là sống còn. Vì thế mục đích được xác định của gắn bó là để duy trì sự gần gũi với người chăm sóc. Hành vi của trẻ được tổ chức xung quanh mục tiêu này và được thiết kế nhằm để làm gia tăng khả năng có thể xảy ra để mối quan hệ với người chăm sóc sẽ là một mối quan hệ khoẻ mạnh. Hệ thống gắn bó được hoạt hoá bởi sự khó chịu dưới dạng các nhu cầu bên trong như là đói hay các yếu tố gây stress bên ngoài như sự nguy hiểm. II. Các giai đoạn gắn bó Sự phát triển của gắn bó theo sau hàng loạt các giai đoạn có thể xác định được trong 3 năm đầu đời. Trẻ sơ sinh định hướng được và đáp ứng với người khác. + Khoảng 2 tuần tuổi, trẻ ưa thích giọng nói của con người hơn những âm thanh khác, khoảng 4 tuần tuổi trẻ thích giọng nói của mẹ hơn giọng nói của người khác. + Vào tháng thứ 2, giao tiếp mắt được thiết lập và tiền tố của gắn bó được thấy khi trẻ hướng về phía người chăm sóc và báo hiệu các nhu cầu của trẻ. + Trong giai đoạn kế tiếp, từ 3-6 tháng tuổi, trẻ bắt đầu biểu lộ và gợi lên sự vui thích trong tương tác con người thông qua nụ cười xã hội Social smile. Trong thực tế, người lớn thực hiện nhiều trò khôi hài để gợi lên nụ cười như thế, điều này cho thấy hành vi này có giá trị và đáp ứng như thế nào trong cuộc sống, nó đảm bảo không chỉ một sự gắn bó khoẻ mạnh hình thành mà còn là sự tương tác qua lại. + Giữa 6-9 tháng, trẻ gia tăng khả năng phân biệt được người chăm sóc trẻ và những người lớn khác và dành phần thưởng cho người đặc biệt này bằng “nụ cười ưu ái” . Cả hai vấn đề lo âu chia cách Separation anxiety và lo âu người lạ Stranger anxiety là tín hiệu cho thấy rằng trẻ có ý thức rằng người chăm sóc trẻ có một chức năng và giá trị độc nhất. + Từ 12-24 tháng tuổi, bò và bước đi cho phép trẻ điều chỉnh được sự gần gũi hoặc khoảng cách xa đối với người chăm sóc. Tìm kiếm gần gũi Proximity-seeking, cũng được xem như là hành vi có nền tảng an toàn, lúc đó trẻ quay về phía người chăm sóc để được thoải mái, trợ giúp, và đơn giản là để “ nạp thêm năng lượng cảm xúc”. + Khoảng 3 tuổi, mục tiêu của gắn bó được mở rộng ra ngoài sự an toàn và dễ chịu của trẻ và trở nên có tính qua lại hơn. Trong những năm tuổi mẫu giáo, gắn bó được hướng về phía thành lập một mối liên hệ đối tác có hướng đến mục tiêu, trong sự cộng tác này nhu cầu và cảm xúc của cả hai bên tham gia vào mối liên hệ được xem xét đến. III. Các kiểu gắn bó bó an toàn Trẻ có gắn bó an toàn có hướng khám phá môi trường một cách tự do và tương tác tốt với người lạ khi có sự hiện diện của người chăm sóc. Trẻ có thể bị khó chịu bởi chia cách và nếu có, trẻ sẽ phản đối và giới hạn lại việc khám phá môi trường khi người chăm sóc vắng mặt. Trong lúc gặp mặt lại, trẻ đón chào người chăm sóc một cách tích cực và tìm kiếm tiếp xúc với người này và sẵn sàng được dỗ dành, trẻ cũng có thể quay lại chơi sau một lúc được tái nạp năng lượng cảm xúc. Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bởi sự nhạy bén với nhu cầu của trẻ. Đặc biệt là người chăm sóc đọc được các tín hiệu của trẻ một cách chính xác và đáp ứng một cách nhanh chóng, phù hợp và với một cảm xúc tích cực. bó tránh né không an toàn Trong gắn bó tránh né, trẻ dường như độc lập một cách sớm hơn bình thường. Trẻ dường như không dựa vào người chăm sóc để có được sự an toàn khi người chăm sóc hiện diện , trẻ khám phá căn phòng rất độc lập và đáp ứng với người chăm sóc và người lạ như nhau. Trẻ đáp ứng rất ít đối với sự vắng mặt của người chăm sóc, đôi khi trẻ thậm chí không nhìn theo khi người chăm sóc rời khỏi. Trong lúc gặp mặt lại, những trẻ này tránh né sự gần gũi với người chăm sóc, trẻ có thể quay đi, tránh giao tiếp mắt, và phớt lờ người chăm sóc. Mặc dầu trẻ có vẻ thờ ơ nhưng khi đo lường các chỉ số sinh lý cho thấy trẻ thực ra có khó chịu. Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bằng sự xa cách và thiếu vắng sự dỗ dành đi kèm với khó chịu và giận dữ trong khi gần gũi. Người ta cho rằng né tránh là sự cố gắng của trẻ để đối mặt với nhu cầu của cha mẹ muốn cách xa bằng cách trẻ giữ đáp ứng thấp và kềm chế biểu lộ cảm xúc mà nó có thể gây ra sự từ chối của cha mẹ. bó chống đối không an toàn Ngược lại với trẻ né tránh,trẻ có gắn bó chống đối cũng được gọi là hai chiều bị bận rộn với người chăm sóc, trẻ có khuynh hướng bám dính vào và bị ức chế từ việc khám phá căn phòng hoặc từ việc tương tác với người lạ ngay cả khi có mặt của người chăm sóc. Trẻ dễ bị khó chịu khi chia cách, nhưng khi gặp mặt lại, trẻ cố gắng chống đối một cách giận dữ khi gần gũi và không dễ dỗ dành. Trẻ đáp ứng với mẹ bằng kiểu tìm kiếm gần gũi hai chiều và từ chối. Ví dụ, trẻ có thể đòi hỏi được bế ẵm rồi sau đó đẩy người chăm sóc ra xa một cách giận dữ hoặc trẻ có thể bám vào người chăm sóc nhưng lại ưỡn cong người ra ngoài và từ chối chấp nhận sự chăm sóc của mẹ. Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bằng khả năng không thể dự đoán được, đôi khi người chăm sóc gần gũi quá mức và lúc khác thì lại không liên quan với trẻ hay khó chịu. Chống đối được xem như là những cố gắng của trẻ nhằm để có được sự chú ý của người chăm sóc, trong khi đó giận dữ lại đến từ việc ấm ức về chăm sóc không tương hợp. 4. Gắn bó rối loạn tổ chức không an toàn Loại này mới được thêm vào sau này. Trẻ bị rối loạn tổ chức hoạt động theo một cách thức không tương hợp hay khác lạ. Những trẻ này có thể có một biểu lộ ngạc nhiên hay đi lang thang xung quanh không có mục đích hay sợ hãi và hai chiều trong sự hiện diện của người chăm sóc, không biết là trẻ tiếp cận với người chăm sóc để được dễ chịu hay tránh né để được an toàn. Nếu trẻ tìm kiếm sự gần gũi, trẻ làm như thế theo cách thức bóp méo như là tiếp cận với người chăm sóc ở phía sau hay bất thình lình lạnh lung và nhìn chằm chằm vào khoảng không. Không giống như trẻ nhỏ có gắn bó né tránh và chống đối, những trẻ này dường như không phát triển một chiến lược ổn định để tiếp xúc với người chăm sóc. Khoảng 5% trẻ trong dân số bình thường có biểu lộ kiểu gắn bó này. Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bằng cách sử dụng những tín hiệu nhầm lẫn như là dang tay ra trong khi lùi lại , người ta cũng quan sát thấy ở những người chăm sóc này đối xử theo cách thức khác lạ và sợ hãi. Vì thế, gắn bó rối loạn tổ chức cho thấy một một sự sụp đổ về chiến lược hệ thống trong việc đối diện với môi trường đe doạ và không tiên đoán được. Thuyết gắn bó là gì? Vì sao cần nhận biết kiểu gắn bó của mình trong mối quan hệ? Các mối quan hệ phần lớn có thành công hay không có thể được giải thích thông qua những gì bạn học được từ các mối quan hệ thuở thơ ấu cũng như sau này. Dưới đây là khái niệm về thuyết gắn bó là gì, các bạn hãy cùng tìm hiểu cùng Nga nhé! Nếu bạn đã từng tìm hiểu trên các trang Internet để tìm kiếm một câu trả lời cho câu hỏi vì sao những mối quan hệ của bạn có vẻ như đều thất bại và thất bại theo một cách tương tự như nhau, thì các bạn có thể sẽ tình cờ bắt gặp Thuyết gắn bó. I. Thuyết gắn bó là gì? Thuyết gắn bó đang là một lĩnh vực thuộc tâm lý học mô tả bản chất của sự gắn bó hay về mặt cảm xúc giữa người với người. Nó được bắt đầu từ thời thơ ấu, khi những đứa trẻ có đang sự gắn kết với cha mẹ chúng. Bản chất của sự gắn bó và cũng như là cách mà nó được vun đắp và quan tâm, nó sẽ ảnh hưởng lớn đến sự gắn bó giữa chúng ta cùng với người bạn đời của mình sau này. Thuyết gắn bó đã xuất hiện từ những năm 1950, và từ đó họ mở đường cho một loạt các nghiên cứu đồ sộ. Hai nhà nghiên cứu có tên là Bowlby và Ainsworth đã nhận ra rằng, với việc nhu cầu của những đứa trẻ đã được đáp ứng bởi ba mẹ chúng một sự việc có thể rất tự nhiên đóng góp một phần to lớn trong “chiến lược gắn kết” của chúng ta xuyên suốt cuộc đời. Xu hướng thuyết gắn bó sẽ không nói lên tất cả mọi điều về các mối quan hệ của bạn, tuy nhiên nó có thể giải thích tại sao mối quan hệ của bạn lại thành công hoặc thất bại như vậy, tại sao các bạn lại bị cuốn hút bởi một kiểu người nào đó, và cũng như là bản chất của những vấn đề trong mối quan hệ mà các bạn phải đối mặt hết lần này cho đến lần khác. Xem thêm Đặc tính gắn bó thời thơ ấu II. Những kiểu thuyết gắn bó Theo những nhà tâm lý học, hiện tại có 4 kiểu chiến lược thuyết gắn bó mà người lớn cũng có thể có an toàn, lo âu, né tránh hay lo âu – né tránh. 1. Kiểu gắn bó an toàn Những người thuộc thuyết gắn bó này thường sẽ thoải mái khi thể hiện sự quan tâm và tình cảm của họ. Họ cũng thoải mái trong khi ở một mình và tự lập. Họ có khả năng tự quyết định sự ưu tiên cho những mối quan hệ của họ, và vạch ra các ranh giới rõ ràng cho những mối quan hệ rồi tuân thủ theo chúng. Những người đang có chiến lược về thuyết gắn bó an toàn rõ ràng thì là những người bạn đời, thành viên ở trong gia đình và thậm chí là cả các người bạn tuyệt vời nhất. Họ có thể chấp nhận được việc bị từ chối và vượt qua những nỗi đau, tuy nhiên họ cũng có thể trung thành hay hy sinh khi bạn cần thiết. Họ tin tưởng những người họ gần gũi và bản thân họ cũng có thể là những người đáng tin cậy. Theo một nghiên cứu thì hơn 50% dân số đang thuộc kiểu thuyết gắn bó an toàn. 2. Kiểu gắn bó lo âu Người thuộc kiểu thuyết gắn bó lo âu thường xuyên cảm thấy lo lắng và áp lực trong các mối quan hệ của họ. Họ cần một người bạn đời liên tục thể hiện sự trấn an cũng như tình yêu dành cho mình. Họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc ở một mình hay độc thân; và thường dính vào các mối quan hệ không lành mạnh và có có thể mang tính bạo hành. Họ cũng có vấn đề trong việc khả năng tin tưởng người khác hoàn toàn, thậm chí là cả những người thân thiết đối với họ. Hành động của họ thường vô lý, thất thường hay có thể xúc động mạnh, và họ thường phàn nàn cho rằng những người khác giới thật sắt đá hay không có trái tim. Đây chính là cô nàng đã gọi bạn 36 lần trong một đêm bởi vì lo lắng rằng tại sao bạn không gọi lại cho cô ấy. Hoặc là anh chàng bám theo bạn gái tới tận văn phòng chỉ để đảm bảo rằng cô ấy sẽ không lả lơi cùng với gã đàn ông nào khác trên đường đi. Trong nhóm này, phụ nữ thường có nhiều hơn là đàn ông. 3. Kiểu gắn bó né tránh Người thuộc kiểu thuyết gắn bó né tránh này thì thường khá tự lập, tự định hướng bản thân và không thoải mái đối với sự thân mật. Họ sợ rằng những mối quan hệ ràng buộc và là những chuyên gia trong việc đưa ra những lời biện minh cho sự không thân mật đó. Họ thường xuyên phàn nàn về vấn đề cảm thấy “quá đông đúc” hoặc “ngộp thở” khi mọi người cố gắng ở lại gần họ. Trong mọi mối quan hệ, thì họ luôn chừa đường rút lui cho chính mình. Luôn luôn. Và họ thường sẽ xây dựng lối sống của bản thân theo cách né tránh sự ràng buộc hay quá nhiều sự thân mật. Đây chính là người đàn ông làm việc 80 giờ trong một tuần và cảm thấy phiền toái khi người phụ nữ anh ta hẹn hò muốn gặp anh ta nhiều hơn 1 lần trong 1 tuần. Hay cô gái hẹn hò với hàng tá người đàn ông trong rất nhiều năm tuy nhiên lại nói rằng cô không muốn có “bất cứ điều gì nghiêm túc” và quả quyết chia tay trong khi cô đã chán ghét họ. Đàn ông sẽ thường thuộc kiểu người này nhiều hơn phụ nữ. 4. Kiểu lo âu – né tránh Kiểu lo âu – né tránh đang còn được biết đến chính là “kiểu sợ sệt” là tổng tập hợp những gì tồi tệ nhất của hai kiểu đã nói trên. Người lo âu – né tránh sẽ không chỉ có nỗi sợ riêng về sự ràng buộc trong sự thân mật, mà họ còn không thể tin tưởng hay mắng mỏ những người khác vì cố tới gần họ. Người lo âu – né tránh thường xuyên dành nhiều thời gian một mình và khốn khổ, hay ở trong các mối quan hệ bạo hành hay rối loạn về chức năng. Theo nhiều nghiên cứu, chỉ có rất ít dân số sẽ thuộc kiểu lo âu– né tránh, và họ thường xuyên có vô vàn vấn đề về cảm xúc trong cuộc sống của chính mình như lạm dụng chất hay trầm cảm,… Cũng như hầu hết các mẫu hình tâm lý psychological profiling khác, những kiểu thuộc thuyết gắn bó này sẽ thường không đi một mình monolithic mà có bản chất không định hướng scalar và tương đối là độc lập. Ví dụ, theo như Amir Levie và Rachel Heller ở trong cuốn sách Attached [Sự gắn bó] thì tôi đạt 75% điểm gắn bó an toàn, 90% điểm gắn bó né tránh, và 10% chính là sự lo âu. Và tôi đoán rằng 3 đến 5 năm trước, tôi đã thuộc kiểu an toàn ít hơn và lo âu nhiều hơn, mặc dù là mức độ né tránh của tôi sẽ vẫn luôn gần như là tuyệt đối bất cứ bạn gái nào của tôi cũng đều sẽ nói như vậy. Mấu chốt ở đây chính là, các bạn có thể bộc lộ những xu hướng của nhiều kiểu thuyết gắn bó khác nhau tùy thuộc vào từng hoàn cảnh và đối với tần suất khác nhau. Mặc dù vậy, mỗi người sẽ thường có một kiểu thuyết gắn bó vượt trội hơn cả. Vì thế, người thuộc kiểu “an toàn” vẫn đang có những hành vi thuộc loại né tránh hoặc lo âu, và người thuộc kiểu “lo âu” đôi khi cũng có những hành vi thể hiện sự an toàn… Không có ai thuộc một kiểu hoàn toàn và cũng chẳng có ai sẽ không thuộc kiểu nào. Cả kiểu người thuộc lo âu và né tránh vẫn sẽ đạt một điểm số nhất định trên thang điểm về an toàn. Tuy nhiên người lo âu – né tránh thường sẽ ghi điểm cao ở trên thang điểm lo âu và né tránh, và có số điểm thấp trong thang điểm an toàn. III. Các kiểu gắn bó được hình thành như thế nào? Như tôi đã nói, thì thuyết gắn bó của chúng ta trong khi trưởng thành thường hình thành từ các mối quan hệ với ba mẹ hoặc là người chăm sóc khi còn nhỏ. Khi còn là những đứa trẻ bất lực và đây là mối quan hệ đầu tiên và cũng là mối quan hệ quan trọng nhất trong cuộc sống của chúng ta. Bởi vì vậy, nó tự nhiên hình thành nên một “bản thiết kế” cho những việc chúng ta nhìn nhận sau này như nào về mọi mối quan hệ khi lớn lên. Chúng ta sử dụng bản thiết kế về mối quan hệ này khi ở cuối độ tuổi thơ ấu và trong độ tuổi vị thành niên nhất định, đó chính là khi chúng ta bắt đầu có những mối quan hệ quan trọng khác nữa ngoài mối quan hệ với ba mẹ. Nhóm bạn đồng trang lứa đã bắt đầu có vai trò to lớn trong cuộc sống khi mà chúng ta tiếp tục hành trình mở rộng mối quan hệ đối với những người khác. Những trải nghiệm này còn tiếp tục ảnh hưởng tới các xu hướng về thuyết gắn bó của chúng ta khi chúng ta có mối quan hệ tình cảm lãng mạn và với những người khác giới, từ đó cũng ảnh hưởng lớn tới kiểu thuyết gắn bó của chúng ta. Vì vậy, mặc dù các trải nghiệm đầu đời đối với ba mẹ sẽ có ảnh hưởng khá sâu sắc tới các mối quan hệ khác. Tuy nhiên nó không phải yếu tố duy nhất và quyết định kiểu gắn bó mặc dù là yếu tố rất lớn và kiểu thuyết gắn bó của bạn cũng có thể thay đổi theo thời gian sẽ đề cập ở phần sau của bài viết. Mặc dù vậy, nhìn chung thì với kiểu gắn bó an toàn được phát triển từ thời thơ ấu, khi mà nhu cầu của đứa trẻ được ba mẹ đang được đáp ứng đều đặn, đồng thời nó cũng nhận được đầy đủ tình yêu thương và quý mến. Chúng cảm nhận mình có đủ năng lực khi ở giữa những người bạn đang đồng trang lứa, tuy nhiên cũng thoải mái với những khuyết điểm của bản thân ở một mức độ nhất định nào đó. Chúng cũng thể hiện về những ranh giới lành mạnh, vững chắc; có thể nói ra các nhu cầu của mình trong các mối quan hệ; và không sợ rời khỏi một mối quan hệ xấu nếu bạn cảm thấy cần thiết. Chiến lược thuyết gắn bó lo âu sẽ được xuất hiện từ thời thơ ấu ở những đứa trẻ không nhận được đầy đủ về tình yêu thương và sự chăm sóc. Chúng thường xuyên có cái nhìn tích cực về bạn bè, nhưng lại có cái nhìn khá tiêu cực về bản thân. Những mối quan hệ lãng mạn của họ sẽ thường bị lý tưởng hóa quá mức cần thiết và lòng tự tôn của họ phụ thuộc quá nhiều vào những mối quan hệ đang có này. Chiến lược thuyết gắn bó né tránh sẽ được xuất hiện từ thời ấu thơ ở những đứa trẻ chỉ được đáp ứng về một vài nhu cầu trong khi phần lớn thì thời gian khác thì bị bỏ rơi chẳng hạn cậu bé được cho ăn đều đặn, tuy nhiên không được ôm ấp đầy đủ. Họ thường có cái nhìn rất tiêu cực về người khác nhưng lại nhìn nhận tích cực về chính bản thân của mình. Họ chưa từng phụ thuộc quá nhiều vào những mối quan hệ tình cảm lãng mạn để có thể cảm nhận sự thân mật và cảm thấy rằng mình có thể không cần phải nhờ người khác hỗ trợ về mặt cảm xúc. Kiểu gắn bó lo âu – né tránh thường được phát triển từ những thời thơ ấu có sự bạo hành hay thờ ơ vô cùng. Họ thường xuyên phải trải qua nhiều khó khăn khi gắn kết đối với bạn bè nhưng cũng chẳng thể làm được. Họ tìm kiếm cả sự thân mật lẫn sự độc lập trong những sự tương tác lãng mạn, đôi khi chính là mong đợi 2 điều đó cùng một lúc, và từ đó dẫn đến, như bạn cũng có thể hình dung được, những mối quan hệ hỗn loạn và rối loạn chức năng. IV. Vì sao cần nhận biết kiểu gắn bó của mình trong mối quan hệ Với việc thuyết gắn bó giúp cho con người có thể kết nối tình cảm sâu sắc và lâu dài hơn thì nó còn giúp cho bạn cảm thấy an toàn, hạnh phúc cũng như khỏe mạnh hơn về cả tinh thần lẫn thể chất. Nhưng không phải tất cả mọi người đều cũng đều có nhu cầu thuyết gắn bó giống nhau. Chẳng hạn, với kiểu gắn bó lo lắng sợ bị rơi hay cô đơn, còn với kiểu gắn bó né tránh thì sự căng thẳng với sự gần gũi và luôn luôn duy trì một khoảng cách nhất định đối với người yêu. Nếu hai người này đang ở trong cùng một mối quan hệ thì có khác biệt về nhu cầu thuyết gắn bó. Và không chắn là mối quan hệ của họ sẽ thất bại nhưng họ cũng cần rất nhiều sự nỗ lực để có thể hiểu nhau và hỗ trợ nửa kia nhiều nhất có thể Bởi vậy, nhận biết được kiểu gắn bó nào của mình và của đối phương cũng chính là chìa khóa giúp các bạn cải thiện và giữ mối quan hệ lâu dài hơn đó. Bạn nhận ra được điểm mạnh hoặc các khía cạnh dễ tổn thương ở trong mối quan hệ. Bạn có thể xác định được nhu cầu cụ thể của mình và biết ai có hay không thể đáp ứng những nhu cầu này nhé V. Gắn bó lo lắng và né tránh nên làm gì để cải thiện mối quan hệ? Nếu các bạn có kiểu gắn bó an toàn và thật tuyệt vời vì bạn cũng có thể hẹn hò và yêu bất cứ người thuộc kiểu gắn bò nào. Theo một bác sĩ tâm thần và nhà thần kinh học và thạc sĩ tâm lý học đến từ đại học Columbia, những người thuộc tuýp người thuộc thuyết gắn bó lo lắng hay né tránh thì có xu hướng dần dần sẽ chuyển sang kiểu gắn bó an toàn nếu ở trong một mối quan hệ hạnh phúc đối với người gắn bó an toàn. Nếu bạn đang thuộc trong kiểu người gắn bó lo lắng hau né tránh, thì đừng thất vọng bởi vì bạn hoàn toàn có thể thay đổi điều này. Người gắn bó lo lắng sẽ có thể học được cách xây dựng hình ảnh của bản thân một cách tích cực, thiết lập những ranh giới lành mạnh. Điều quan trọng hơn chính là họ biết cách chọn người yêu, người bạn đời thích hợp cùng với nhu cầu thuyết gắn bó của mình. Tương tự thì người thuộc thuyết gắn bó né tránh cũng có thể học được cách mở lòng và sễ chia, bộc lộ bản thân với người khác nhất có thể, tin tưởng rồi dần thu hẹp khoảng cách trong những mối quan hệ thân mật. Trong cả 2 trường hợp trên thì giao tiếp và kiên nhẫn sẽ chính là một nhân tố thiết yếu để tạo ra sự thay đổi tích cực. VI. Kết luận Nếu bạn đang khao khát được yêu thương hay mong muốn có mối quan hệ tốt đẹp tuy nhiên vẫn gặp nhiều trở ngại thì đã đến lúc các bạn nên dành thời gian để chiêm nghiệm lại các mối quan hệ cũ, để xác định kiểu thuyết gắn bó của bản thân để tự có thể thay đổi và tạo ra nhiều mối quan hệ như ý. Chúc các bạn thành công! ———————————————- Tổng hợp và giới thiệu 07 học thuyết gắn bó đáng chú ý 1. Học thuyết gắn bó của John Bowlby. John Bowlby and Attachment Theory Gắn bó là gì? What is Attachment? Gắn bó là một dạng quan hệ cảm xúc đặc biệt có liên quan đến sự trao đổi qua lại các cảm giác an ủi, chăm sóc và sự hài lòng. Nghiên cứu về sự gắn bó bắt rễ từ các học thuyết của Freud về tình yêu, nhưng Freud thường không được xem là cha đẻ của thuyết gắn bó mà là một người khác. Attachment is a special emotional relationship that involves an exchange of comfort, care, and pleasure. The roots of research on attachment began with Freud’s theories about love, but another researcher is usually credited as the father of attachment theory. Nguồn Essential Baby John Bowlby đã tiến hành nghiên cứu trên phạm vi rộng về sự gắn bó, mô tả nó là “một sự kết nối tâm lý mang tính kéo dài giữa người với người.” Cũng theo góc nhìn của ông trong phân tâm học, các trải nghiệm đầu tiên từ thời thơ ấu là rất quan trọng, ảnh hưởng lên sự phát triển và quyết định các hành vi của con người sau này. Các kiểu gắn bó ban sơ thường được thiết lập trong thời thơ ấu qua mối quan hệ giữa các bé và người chăm dưỡng. John Bowlby devoted extensive research to the concept of attachment, describing it as a “lasting psychological connectedness between human beings.” Bowlby shared the psychoanalytic view that early experiences in childhood are important with influencing development and behavior later in life. Our early attachment styles are established in childhood through the infant/caregiver relationship. Thêm nữa, Bowlby cũng tin rằng sự gắn bó chịu tác động từ yếu tố tiến hóa; sự gắn bó giúp ta sinh tồn. “Thiên hướng tạo dựng các mối gắn kết cảm xúc mạnh mẽ đối với một cá nhân cụ thể nào đó là một phần cơ bản trong bản năng con người.” In addition to this, Bowlby believed that attachment had an evolutionary component; it aids in survival. “The propensity to make strong emotional bonds to particular individuals [is] a basic component of human nature”. Đặc tính của sự gắn bó. Characteristics of Attachment Bowlby cho rằng sự gắn bó có 4 đặc tính Bowlby believed that there are four distinguishing characteristics of attachment – Duy trì tiếp xúc gần gũi – Mong muốn được ở gần người ta gắn bó. Proximity Maintenance – The desire to be near the people we are attached to. – Trú ẩn an toàn – Quay trở lại với người gắn bó để cảm thấy được an ủi và an toàn khi cảm thấy sợ hãi hoặc bị đe dọa. Safe Haven – Returning to the attachment figure for comfort and safety in the face of a fear or threat. – Căn cứ đảm bảo – Người gắn bó đóng vai trò là một căn cứ an toàn mà từ đó trẻ có thể đi ra khám phá môi trường xung quanh. Secure Base – The attachment figure acts as a base of security from which the child can explore the surrounding environment. – Đau buồn khi bị chia tách – Lo âu đau buồn xuất hiện khi vắng mặt người gắn bó. Separation Distress – Anxiety that occurs in the absence of the attachment figure. Bowlby đưa ra 3 quan điểm mấu chốt về thuyết gắn bó. Một, ông cho rằng khi đứa trẻ lớn lên với sự tự tin rằng người chăm sóc thân cận nhất sẽ luôn có ở bên khi chúng cần, trẻ sẽ bớt trải qua các cảm giác sợ hãi hơn những trẻ lớn lên mà không có sự tin tưởng đó. Hai, ông cho rằng sự tự tin này được rèn luyện trong suốt một giai đoạn nào đó trong quá trình phát triển, có thể là những năm tháng sơ sinh, thời thơ bé, thời niên thiếu, và rằng các mong đợi được hình thành trong suốt quãng thời gian đó có xu hướng cố định, hầu như không đổi trong suốt quãng đời còn lại. Cuối cùng, ông cho rằng những mong đợi này được hình thành và trực tiếp gắn kết với các trải nghiệm sống. Nói cách khác, trẻ sẽ dần hình thành các mong đợi rằng người chăm sóc sẽ đáp ứng các nhu cầu của chúng bây giờ và trong tương lai vì họ đã từng làm vậy trong quá khứ. Bowlby made three key propositions about attachment theory. First, he suggested that when children are raised with confidence that their primary caregiver will be available to them, they are less likely to experience fear than those who are raised without such conviction. Secondly, he believed that this confidence is forged during a critical period of development, during the years of infancy, childhood, and adolescence, and that the expectations that are formed during that period tend to remain relatively unchanged for the rest of the person’s life. Finally, he suggested that these expectations that are formed are directly tied to the experience. In other words, children develop expectations that their caregivers will be responsive to their needs because, in their experience, their caregivers have been responsive in the past. 2. Đánh giá “Tình huống kỳ lạ” của Ainsworth. Ainsworth’s “Strange Situation” Trong suốt những năm 1970, nhà tâm lý học Mary Ainsworth đã mở rộng nghiên cứu lịch sử của Bowlby trong nghiên cứu của bà về “Tình huống kỳ lạ” được nhiều người biết đến ngày nay. Nghiên cứu tập trung quan sát trẻ trong độ tuổi từ 12 đến 18 tháng phản ứng lại tình huống khi chúng bị bỏ một mình trong thời gian ngắn và sau đó được gặp lại mẹ của mình. During the 1970’s, psychologist Mary Ainsworth further expanded upon Bowlby’s groundbreaking work in her now-famous “Strange Situation” study. The study involved observing children between the ages of 12 to 18 months responding to a situation in which they were briefly left alone and then reunited with their mother. Dựa trên những quan sát này, Ainsworth kết luận rằng có 3 dạng gắn bó lớn Gắn bó an toàn, gắn bó bất an nước đôi và gắn bó bất an né tránh. Hai nhà nghiên cứu Solomon và Main đã thêm vào dạng thứ 4 có tên gọi Gắn bó bất an hỗn độn. Các nghiên cứu khác cũng ủng hộ các kết luận của Ainsworth và nhiều người cũng đồng ý rằng những dạng gắn bó sơ khai từ thời thơ ấu sẽ ảnh hưởng và giúp dự đoán các hành vi sau này khi trưởng thành. Based on these observations, Ainsworth concluded that there were three major styles of attachment secure attachment, ambivalent insecure attachment, and avoidant insecure attachment. Researchers Main and Solomon added a fourth attachment style known as disorganized-insecure attachment. Numerous studies have supported Ainsworth’s conclusions and additional research has revealed that these early attachment styles can help predict behaviors later in life. 3. Gắn kết suốt đời. Attachment Through Life. Trước khi bạn bắt đầu đổ lỗi cho cha mẹ vì những vấn đề trong mối quan hệ giữa 2 bên thì bạn cần lưu ý rằng các kiểu gắn bó từ thời thơ ấu không hẳn sẽ giống với những kiểu gắn bó tình cảm lúc trưởng thành. Khoảng thời gian giũa thời bé và lúc trưởng thành là quá dài, nên các trải nghiệm mang tính can thiệp cũng đóng một vai trò lớn trong việc hình thành kiểu gắn kết ở tuổi trưởng thành. Những kiểu gắn bó được xem là lẫn lộn hay né tránh lúc nhỏ có thể trở thành kiểu gắn bó an toàn đối với người lớn, trong khi có người có dạng gắn bó an toàn thời nhỏ có thể cảm thấy kiều gắn bó này trở nên bất an khi trưởng thành. Tính khí cũng được xem là một yếu tố cần xem xét khi nghiên cứu về sự gắn bó. Before you start blaming relationship problems on your parents, it is important to note that attachment styles formed in infancy are not necessarily identical to those demonstrated in adult romantic attachment. A great deal of time has elapsed between infancy and adulthood, so intervening experiences also play a large role in adult attachment styles. Those described as ambivalent or avoidant in infancy can become securely attached as adults, while those with a secure attachment in childhood can show insecure attachment styles in adulthood. Basic temperament is also thought to play a partial role in attachment. Trong một nghiên cứu, Hazen và Shaver đã phát hiện ra rằng cha mẹ ly hôn dường như không có can hệ gì nhiều đến dạng thức gắn bó. Thay vào đó, nghiên cứu của họ chỉ ra rằng dự báo tốt nhất về dạng gắn bó ở người trưởng thành là những nhận thức người ta có được về chất lượng của những mối quan hệ của họ với cha mẹ cũng như giữa cha mẹ với nhau. In one study, Hazen and Shaver found that parental divorce seemed unrelated to attachment style. Instead, their research indicated that the best predictor of adult attachment style was the perceptions that people have about the quality of their relationships with their parents as well as their parent’s relationship with each other. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng những dạng thức hình thành từ thời thơ ấu có một tác động quan trọng lên các mối quan hệ về sau. Hazen và Shaver cũng phát hiện ra nhiều niềm tin trong các mối quan hệ với người khác cũng thay đổi cùng với sự biến hóa của các dạng gắn bó. Những người trưởng thành nhóm gắn bó an toàn thường tin rằng tình yêu là thứ vững bền lâu dài. Những người trưởng thành trong nhóm gắn bó nước đôi sẽ có xu hướng phải lòng người khác thường xuyên hơn, và những người trong nhóm gắn bó tránh né lại cho rằng tình yêu là thứ hiếm hoi và chỉ mang tính nhất thời. But research in this area does indicate that patterns established in childhood have an important impact on later relationships. Researchers Hazen and Shaver also found varied beliefs about relationships amongst adults with differing attachment styles. Securely attached adults tend to believe that romantic love is enduring. Ambivalently attached adults report falling in love often, while those with avoidant attachment styles describe love as rare and temporary. Mặc dù vẫn chưa thể nói rằng các kiểu gắn bó ở trẻ nhỏ giống như các kiểu gắn bó ở người lớn, nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra ràng các dạng thức gắn bó thời thơ ấu có thể giúp dự đoán các kiểu hành vi của con người sau này. While we cannot say that infant attachment styles are identical to adult romantic attachment styles, research has shown that early attachment styles can help predict patterns of behavior in adulthood. 4. Gắn bó an toàn. Secure Attachment Đặc tính của Gắn bó an toàn. Characteristics of Secure Attachment Những đứa trẻ thuộc nhóm gắn bó an toàn nhìn chung sẽ dễ dàng buồn bã ra mặt khi người chăm sóc rời đi, và vui vẻ trông thấy khi họ quay lại. Khi hoảng sợ, những đứa trẻ này sẽ tìm kiếm sự an ủi, che chở từ cha mẹ hoặc người chăm sóc mình. Tiếp xúc lần đầu với cha mẹ sẽ dần được đứa trẻ có gắn bó an toàn chấp nhận và chúng chào đón sự quay trở lại của cha mẹ với các hành vi tích cực. Mặc dù những đứa trẻ này có thể được an ủi từ những người khác ở một mức độ nào đó khi cha mẹ hay người chăm sóc vắng mặt nhưng chúng rõ ràng vẫn thích cha mẹ và người chăm sóc của chúng hơn. Children who are securely attached generally become visibly upset when their caregivers leave, and are happy when their parents return. When frightened, these children will seek comfort from the parent or caregiver. Contact initiated by a parent is readily accepted by securely attached children and they greet the return of a parent with positive behavior. While these children can be comforted to some extent by other people in the absence of a parent or caregiver, they clearly prefer parents to strangers. Cha mẹ của những trẻ gắn bó an toàn thường chơi với trẻ nhiều hơn. Thêm vào đó, những cha mẹ này đáp ứng các nhu cầu từ trẻ nhanh chóng và với tần xuất cao hơn cha mẹ của những trẻ có gắn bó bất an. Các nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ gắn bó an toàn thường có sự đồng cảm nhiều hơn trong những giai đoạn về sau của thời thơ ấu. Chúng cũng ít phá hoại, ít hung hăng và trưởng thành hơn so với những đứa trẻ có gắn bó nước đôi hay gắn bó tránh né. Parents of securely attached children tend to play more with their children. Additionally, these parents react more quickly to their children’s needs and are generally more responsive to their children than the parents of insecurely attached children. Studies have shown that securely attached children are more empathetic during later stages of childhood. These children are also described as less disruptive, less aggressive, and more mature than children with ambivalent or avoidant attachment styles. Mặc dù hình thành một gắn bó an toàn với người chăm sóc là chuyện bình thường và có thể dự đoán được, nhưng theo Hazen và Shaver, không phải lúc nào nó cũng xảy ra như ta nghĩ. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra khá nhiều yếu tố khác nhau góp phần vào sự phát triển hoặc thiếu hụt gắn bó an toàn, đặc biệt là sự đáp ứng của người mẹ với các nhu cầu của con trẻ trong suốt năm đầu đời. Những người mẹ không thường xuyên đáp ứng con trẻ hoặc những người hay làm gián đoạn hoạt động của con thường sẽ khiến đứa trẻ không dám khám phá thêm, khóc và lo lắng nhiều hơn. Những người mẹ thường xuyên bác bỏ hoặc ngó lơ nhu cầu của con thường bị trẻ xa lánh và tránh né tiếp xúc. While forming a secure attachment with caregivers is normal and expected, as Hazen and Shaver have noted, it doesn’t always happen. Researchers have found a number of different factors that contribute to the development or lack thereof of secure attachment, particularly a mother’s responsiveness to her infant’s needs during the first year of a child’s life. Mothers who respond inconsistently or who interfere with child’s activities tend to produce infants who explore less, cry more, and are more anxious. Mothers who consistently reject or ignore their infant’s needs tend to produce children who try to avoid contact. Đối với người trưởng thành, nhóm gắn bó an toàn thường có các mối quan hệ tin cậy và dài lâu. Các đặc tính khác của người gắn bó an toàn bao gồm có lòng tự trọng cao, có được các mối quan hệ thân thiết, tìm kiếm sự hỗ trợ từ những người khác và có khả năng chia sẻ cảm xúc của mình với người khác. As adults, those who are securely attached tend to have trusting, long-term relationships. Other key characteristics of securely attached individuals include having high self-esteem, enjoying intimate relationships, seeking out social support, and an ability to share feelings with other people. Trong một nghiên cứu khác, các nhà khoa học cũng phát hiện ra rằng phụ nữ thuộc kiểu gắn bó an toàn có nhiều cảm xúc tích cực về mối quan hệ yêu đương của mình hơn những người thuộc nhóm gắn bó bất an. In one study, researchers found that women with a secure attachment style had more positive feelings about their adult romantic relationships than other women with insecure attachment styles. Có bao nhiêu người tự xếp bản thân vào nhóm gắn bó an toàn? Trong một thí nghiệm cổ điển thực hiện bởi Hazen và Shaver, 56% tham dự viên cho rằng họ thuộc nhóm an toàn, 25% cho rằng họ thuộc nhóm trành né và 19% tự nhận mình thuộc nhóm nước đôi/lo âu. How many people classify themselves as securely attached? In a classic study by Hazen and Shaver, 56 percent of respondent identified themselves as secure, while 25 percent identified as avoidant and 19 percent as ambivalent/anxious. 5. Gắn bó nước đôi. Ambivalent Attachment Đặc tính của gắn bó nước đôi. Characteristics of Ambivalent Attachment Trẻ có gắn bó nước đôi có xu hướng hay nghi ngờ người lạ. Những đứa trẻ này cho thấy sự lo âu đáng kể khi bị chia tách khỏi cha mẹ hay người nuôi dưỡng, nhưng rồi vẫn không cảm thấy được yên lòng khi họ quay lại. Trong một vài trường hợp, đứa trẻ có thể chối bỏ cha mẹ một cách thụ động bằng cách không chịu để cha mẹ an ủi hoặc có thể thể hiện sự hung hăng trực tiếp lên cha mẹ chúng. Children who are ambivalently attached tend to be extremely suspicious of strangers. These children display considerable distress when separated from a parent or caregiver, but do not seem reassured or comforted by the return of the parent. In some cases, the child might passively reject the parent by refusing comfort, or may openly display direct aggression toward the parent. Theo Cassidy và Berlin, gắn bó nước đôi thường không phổ biến lắm, chỉ khoảng 7 đến 15% trẻ nhỏ tại Mỹ có biểu hiện của dạng gắn bó này. Trong bải tổng quan lý thuyết về gắn bó nước đôi, Cassidy và Berlin cũng phát hiện ra rằng luôn có một mối liên hệ giữa gắn bó bất an nước đôi và sự thiếu vằng tình mẫu tử. Khi những đứa trẻ này lớn lên, giáo viên thường mô tả chúng là những đứa hay đeo bám và quá lệ thuộc người khác. According to Cassidy and Berlin, ambivalent attachment is relatively uncommon, with only 7 to 15 percent of infants in the United States displaying this attachment style. In a review of ambivalent attachment literature, Cassidy and Berlin also found that observational research consistently links ambivalent insecure attachment to low maternal availability. As these children grow older, teachers often describe them as clingy and over-dependent. Ở người trưởng thành, những người có gắn bó nước đôi thường cảm thấy do dự trong việc gần gũi người khác và lo lắng rằng người đó sẽ không đáp lại tình cảm của họ. Điều này dẫn đến việc chia tay thường xuyên, bởi chính những người trong cuộc luôn cảm thấy lạnh lùng và xa cách. Những người này cảm thấy đặc biệt mất kiểm soát sau khi mối quan hệ kết thúc. Cassidy và Berlin mô tả một dạng thức tâm lý khác xuất hiện khi những người gắn bó nước đôi này bám lấy trẻ nhỏ như một nguồn động viên an toàn. As adults, those with an ambivalent attachment style often feel reluctant about becoming close to others and worry that their partner does not reciprocate their feelings. This leads to frequent breakups, often because the relationship feels cold and distant. These individuals feel especially distraught after the end of a relationship. Cassidy and Berlin described another pathological pattern where ambivalently attached adults cling to young children as a source of security. 6. Gắn bó tránh né. Avoidant Attachment Đặc trưng của Gắn bó tránh né. Characteristics of Avoidant Attachment Trẻ nhỏ thuộc nhóm gắn bó tránh né có xu hướng tránh né cha mẹ và người chăm sóc. Dạng tránh né này thường trở nên đặc biệt rõ ràng sau một khoảng thời gian vằng mặt người gắn bó. Những đứa trẻ này có thể không chối bỏ sự quan tâm chú ý từ cha mẹ nhưng cũng không tìm kiếm sự che chở an ủi hay tiếp xúc nào. Trẻ có gắn bó dạng tránh né không cho thấy chúng thích cha mẹ hơn một người xa lạ. Children with avoidant attachment styles tend to avoid parents and caregivers. This avoidance often becomes especially pronounced after a period of absence. These children might not reject attention from a parent, but neither do they seek our comfort or contact. Children with an avoidant attachment show no preference between a parent and a complete stranger. Ở người trưởng thành, những người có gắn bó tránh né thường gặp khó khăn trong các mối quan hệ tình cảm thân mật. Những người này không đầu tư nhiều cảm xúc vào các mối quan hệ và chỉ cảm thấy hơi không vui khi quan hệ chấm dứt. Họ thường tránh né sự tiếp xúc gần gũi hay thân thiết bằng cách kiếm cớ như phải làm việc trong thời gian dài, hoặc có thể mơ màng về một người khác trong lúc quan hệ. Nghiên cứu cho thấy những người thuộc nhóm gắn bó tránh né thường tỏ ra chấp nhận và dễ có các cuộc tình một đêm. Đặc tính phổ biến khác là thất bại trong việc hỗ trợ đối phương trong những lúc gian nan và gặp khó khăn trong việc chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ và tình cảm với đối phương. As adults, those with an avoidant attachment tend to have difficulty with intimacy and close relationships. These individuals do not invest much emotion in relationships and experience little distress when a relationship ends. They often avoid intimacy by using excuses such as long work hours, or may fantasize about other people during sex. Research has also shown that adults with an avoidant attachment style are more accepting and likely to engage in casual sex. Other common characteristics include a failure to support partners during stressful times and an inability to share feelings, thoughts and emotions with partners. 7. Gắn bó hỗn độn. Disorganized Attachment Đặc tính của nhóm gắn bó hỗn độn. Characteristics of Disorganized Attachment Trẻ thuộc nhóm gắn bó hỗn độn thường thiếu các hành vi gắn bó rõ ràng. Hành động và phản ứng của chúng đối với người chăm sóc thường kết hợp nhiều hành vi, bao gồm cả tránh né và do dự. Những đứa trẻ này thường được mô tả là hay có biểu hiện ngạc nhiên, đôi lúc bị bối rối hoặc e sợ khi có mặt người chăm sóc. Children with a disorganized-insecure attachment style show a lack of clear attachment behavior. Their actions and responses to caregivers are often a mix of behaviors, including avoidance or resistance. These children are described as displaying dazed behavior, sometimes seeming either confused or apprehensive in the presence of a caregiver. Main và Solomon cho rằng hành vi không nhất quán ở một số cha mẹ có thể là yếu tố góp phần hình thành dạng gắn bó này. Trong các nghiên cứu sau này, Main và Hesse lại cho rằng cha mẹ những người lúc làm trẻ sợ, lúc lại an ủi trẻ cũng góp phần hình thành kiểu gắn bó này. Vì trẻ cảm thấy vừa an toàn vừa sợ hãi khi ở cạnh cha mẹ, kết quả là sự bối rối không biết phải đối mặt như thế nào. Main and Solomon proposed that inconsistent behavior on the part of parents might be a contributing factor in this style of attachment. In later research, Main and Hesse argued that parents who act as figures of both fear and reassurance to a child contribute to a disorganized attachment style. Because the child feels both comforted and frightened by the parent, confusion results. Nguồn Như Trang. MTD Theo thuyết gắn bó được hai nhà nghiên cứu Bowlby và Ainsworth công bố vào năm 1950, làm tiền đề cho một loạt những nghiên cứu đồ sộ khác, con người có 4 kiểu gắn bó cảm xúc thường gặp “gắn bó an toàn”, “gắn bó lo âu”, “gắn bó né tránh” và “gắn bó lo âu – né tránh”. Thuyết gắn bó là một lĩnh vực của tâm lý học mô tả bản chất của sự gắn bó về mặt cảm xúc giữa người với người. Xu hướng gắn bó tuy không nói lên tất cả mọi điều về mối quan hệ của một người, nhưng nó có thể giải thích tại sao mối quan hệ đó lại thành công hay thất bại, tại sao chúng ta lại bị cuốn hút bởi một kiểu người nào đó và bản chất của những vấn đề trong một mối quan hệ. Cũng như hầu hết những mẫu hình tâm lý khác, những kiểu gắn bó này thường không đi một mình, chúng có bản chất không định hướng và tương đối độc lập. Mấu chốt ở đây là, bạn có thể bộc lộ những xu hướng của nhiều kiểu gắn bó khác nhau tùy vào từng hoàn cảnh và với tần suất khác nhau. Mặc dù vậy, mỗi người thường có một kiểu gắn bó vượt trội hơn cả. Vì thế, người thuộc kiểu “an toàn” vẫn sẽ có những hành vi thuộc loại né tránh hay lo âu, và người thuộc kiểu “lo âu” đôi khi cũng có những hành vi an toàn… Không có ai thuộc một kiểu hoàn toàn và cũng chẳng có ai không thuộc kiểu nào. Cả kiểu người lo âu và né tránh vẫn sẽ đạt một điểm số nhất định trên thang điểm an toàn. Nhưng người lo âu – né tránh thường sẽ ghi điểm cao trên thang điểm lo âu và né tránh và có số điểm thấp trên thang điểm an toàn. Kiểu gắn bó an toàn Những người có kiểu gắn bó này thường thoải mái khi thể hiện sự quan tâm và tình cảm của họ. Họ cũng thoải mái khi ở một mình và tự lập. Họ có khả năng quyết định sự ưu tiên cho các mối quan hệ của mình và vạch ra ranh giới rõ ràng cho những mối quan hệ, cũng như tuân thủ theo chúng. Những người có xu hướng này rõ ràng là những người bạn đời, thành viên trong gia đình và thậm chí là cả những người bạn tuyệt vời nhất. Họ có thể chấp nhận việc bị từ chối và vượt qua những nỗi đau, nhưng họ cũng có thể trung thành và hy sinh khi cần thiết. Họ tin tưởng những người họ gần gũi và bản thân họ cũng là những người đáng tin cậy. Theo một nghiên cứu, hơn 50% dân số thuộc kiểu gắn bó an toàn. Kiểu gắn bó lo âu Người thuộc kiểu gắn bó lo âu thường cảm thấy lo lắng và áp lực trong những mối quan hệ của họ. Họ cần nửa kia của mình liên tục thể hiện sự trấn an và dành nhiều yêu thương cho mình. Họ gặp khó khăn trong việc ở một mình, hoặc độc thân. Do vậy, họ thường dính vào những mối quan hệ không lành mạnh và mang tính bạo hành. Họ cũng có vấn đề trong việc tin tưởng người khác, thậm chí là cả những người thân thiết. Hành động của họ thường vô lý, thất thường và dễ xúc động mạnh. Họ thường phàn nàn và đòi hỏi lòng tră ẩn, sự cảm thông từ người khác nhiều nhất có thể. Trong nhóm này, phụ nữ thường nhiều hơn đàn ông. Kiểu gắn bó né tránh Người thuộc kiểu gắn bó né tránh này thường khá tự lập, tự định hướng và không thoải mái với sự thân mật. Họ sợ những mối quan hệ ràng buộc và là các chuyên gia trong việc đưa ra những lời biện minh cho sự không thân mật đó. Họ thường xuyên phàn nàn về việc cảm thấy “quá đông đúc” hay “ngộp thở” khi mọi người cố gắng lại gần họ. Trong mọi mối quan hệ, họ luôn chừa đường rút lui cho chính mình – luôn luôn. Và họ thường xây dựng lối sống của mình theo cách né tránh sự ràng buộc, hay quá nhiều thân mật. Đàn ông thường thuộc kiểu người này nhiều hơn phụ nữ. Kiểu gắn bó lo âu – né tránh Kiểu gắn bó này còn được biết đến là “kiểu sợ sệt”. Đây là tập hợp những gì tồi tệ nhất của hai kiểu nói trên. Người thuộc tuýp gắn bó lo âu – né tránh không chỉ có nỗi sợ về sự ràng buộc và thân mật, mà họ còn không tin tưởng và mắng mỏ người khác vì cố tới gần họ. Người lo âu – né tránh thường dành nhiều thời gian một mình và khốn khổ, hoặc ở trong những mối quan hệ bạo hành, hay rối loạn nhân cách. Theo nhiều nghiên cứu, chỉ có rất ít dân số thuộc kiểu gắn bó lo âu – né tránh, và họ thường có vô vàn vấn đề về cảm xúc trong cuộc sống của mình, điển hình như lạm dụng chất cấm, trầm cảm… Thay đổi kiểu gắn bó Nghiên cứu chỉ ra rằng, những người có kiểu gắn bó an toàn thì thường hạnh phúc hơn và cảm thấy được nâng đỡ nhiều hơn, có ít nguy cơ mắc trầm cảm hơn, khỏe mạnh hơn, duy trì mối quan hệ bền vững hơn và trở nên thành công hơn những người thuộc nhóm khác. Tin tốt là kiểu gắn bó có thể thay đổi theo thời gian, mặc dù khá chậm và khá khó khăn. Nghiên cứu chỉ ra rằng, một người lo âu hay né tránh khi bước vào mối quan hệ dài hạn cùng với người an toàn thì có thể gia tăng mức độ an toàn theo thời gian. Không may thay, người lo âu hay né tránh cũng có thể làm giảm mức độ an toàn của người thuộc kiểu gắn bó an toàn xuống gần bằng họ nếu không cẩn thận. Tương tự như vậy, những sự kiện tiêu cực trong cuộc sống, như ly hôn, mất con, tai nạn nghiêm trọng, cũng có thể khiến người có kiểu gắn bó an toàn rơi vào kiểu gắn bó thiếu an toàn hơn. Nguyên Minh theo Mark Manson Mây Thong Dong trân trọng được hợp tác trong lĩnh vực truyền thông với quý công ty, đơn vị, cá nhân; làm sách, in ấn, quảng cáo… Liên hệ truyenthong Thương hiệu trà Việt nổi tiếng Bảo Trầm – thương hiệu nhang sạch cho mọi nhà Lượt xem

gắn bó hay gắng bó